27/03/2016
1964
Bài Giảng trong Lễ Vọng Phục Sinh của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
 
"Tảng đá đầu tiên cần phải đẩy sang một bên đêm hôm nay đó là tình trạng bị hụt hẫng hy vọng là những gì giam nhốt bản thân chúng ta. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi cái bẫy này, khỏi trở thành những Kitô hữu vô vọng, những người sống như thể Chúa không phục sinh, như thể các vấn đề của chúng ta làm chủ đời sống chúng ta" 
 
"Phêrô đã chạy đến mồ" (Luca 24:12). Ý nghĩ nào đã vụt qua trong đầu của tông đồ Phêrô và đã tác động tâm can của ngài khi ngài chạy đến mồ? Phúc Âm cho chúng ta biết rằng mười một vị, bao gồm cả tông đồ Phêrô, không tin chứng từ của các nguời phụ nữ, không tin việc loan báo Phục Sinh của họ. Hoàn toàn trái lại, "những lời lẽ ấy đối với các vị như là một thứ chuyện bịa đặt" (câu 11). Bởi vậy mà tông đồ Phêrô đã cảm thấy hoang mang, cùng với nhiều thứ lo âu khác, như nỗi buồn trước cái chết của vị Thày yêu quí và tâm trạng vỡ mộng bởi đã chối Người ba lần trong cuộc Khổ Nạn của Người.

Tuy nhiên, có một cái gì đó đã báo hiệu cho thấy xẩy ra thay đổi nơi ngài, ở chỗ, sau khi nghe những người phụ nữ và không chịu tin họ thì "Phêrô đã chỗi dậy" (câu 12). Ngài không cứ ngồi nguyên đó theo ý nghĩ của mình; ngài đã không ở nhà như những vị khác. Ngài đã chẳng những không chịu nổi bầu khí u buồn ảm đạm của những ngày ấy, mà còn cả những hoang mang đang bao phủ ngài. Thế nên, ngài đã chỗi dậy, như ngài vẫn thế, và chạy ra mồ rồi trở về với một cảm giác "ngỡ ngàng" (câu 12). Điều ấy đã đánh dấu khởi điểm cho tình trạng phục sinh của tông đồ Phêrô, cuộc phục sinh trong tâm can của ngài. Không chịu đầu hàng trước nỗi buồn thảm hay bóng tối, ngài đã giành chỗ cho niềm hy vọng: ngài đã để cho ánh sáng của Thiên Chúa chiếu vào tâm can của ngài chứ không dập tắt nó.

Cả những người phụ nữ nữa, những người sáng sớm đã ra mộ để thực hiện một việc xót thương, khi mang dầu thơm theo, đã có cùng một cảm nghiệm như thế. Họ đã "run sợ và cúi gầm mặt xuống", tuy nhiên họ lại bị cảm kích sâu xa trước lời của vị thiên thần: "Tại sao các bà lại tìm kiếm kẻ sống nơi người chết?" (câu 5).

Như tông đồ Phêrô và các người phụ nữ này, chúng ta không thể nào khám phá thấy sự sống ở chỗ buồn bã, mất hy vọng. Chúng ta đừng cứ giam nhốt bản thân mình, nhưng chúng ta hãy mở toang các nấm mộ kín của chúng ta cho Chúa để Người có thể tiến vào mà ban sự sống cho chúng ta. Chúng ta hãy dâng cho Người những tảng đá hiềm thù của chúng ta và những viên đá cuội quá khứ của chúng ta, những gánh nặng nề bởi nỗi hèn yếu và vấp phạm ấy của chúng ta. Chúa Kitô muốn đến và nắm lấy tay chúng ta đưa chúng ta ra khỏi cảnh sầu khổ buồn thương. Tảng đá đầu tiên cần phải đẩy sang một bên đêm hôm nay đó là tình trạng bị hụt hẫng hy vọng là những gì giam nhốt bản thân chúng ta. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi cái bẫy này, khỏi trở thành những Kitô hữu vô vọng, những người sống như thể Chúa không phục sinh, như thể các vấn đề của chúng ta làm chủ đời sống chúng ta.

Chúng ta thấy và sẽ tiếp tục thấy các vấn đề này ở cả bên trong lẫn bên ngoài. Chúng bao giờ cũng có đó. Thế nhưng, đêm hôm nay cần phải chiếu tỏa ánh sáng của Chúa Phục Sinh trên các vấn đề của chúng ta, và ở một nghĩa nào đó, cần phải "phúc âm hóa" chúng. Chúng ta đừng để cho bóng tối và lo sợ làm cho chúng ta phân tâm và chi phối chúng ta; chúng ta cần phải vang tiếng cho các vấn đề ấy nghe thấy rằng: Chúa "không còn ở đây nữa mà đã sống lại!" (câu 6). Người là niềm vui trọng đại nhất của chúng ta; Người bao giờ cũng ở bên chúng ta và sẽ không bao giờ bỏ mặc chúng ta.

Đó là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta, một niềm hy vọng không phải chỉ thuần lạc quan, cũng không phải là một thái độ tâm lý hoặc là một ước muốn can trường. Niềm hy vọng Kitô giáo là một tặng ân Thiên Chúa ban cho chúng
114.864864865135.135135135250