30/09/2017
1173
Bài 76: (Thứ Tư ngày 24-11-1999)
 
Tình Phụ Tử Của Thiên Chúa Ngôi Cha Qua Phẩm Vị Và Ơn Gọi Của Nữ Giới 
 
Trong số những thách đố của giây phút lịch sử mà Cuộc Mừng Kỷ Niệm Trọng Thể thôi thúc chúng ta phải suy nghĩ đến đây đã được Tôi lưu ý trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến (đoạn 51) về vấn đề tôn trọng quyền lợi của nữ giới. Hôm nay Tôi muốn nhắc lại một vài khía cạnh về vấn đề phụ nữ cũng đã được Tôi nói đến trong một vài dịp.
 
Thánh Kinh đã chiếu sáng về đề tài thăng tiến nữ giới này, qua hai trình thuật về dự án của Thiên Chúa đối với người nam và người nữ trong công cuộc tạo dựng.
 
Trình thuật thứ nhất cho thấy rằng: “Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài, theo hình ảnh của mình, Ngài đã dựng nên họ; Ngài đã dựng nên họ có nam có nữ” (Gn 1:27). Câu Thánh Kinh này là nền tảng cho nhân loại học của Kitô Giáo, vì câu ấy cho thấy căn bản của phẩm vị con người như là một người khi được dựng nên “tương tự như” Thiên Chúa. Đoạn văn này cũng còn rõ ràng cho thấy rằng, không chỉ riêng người nam hay riêng người nữ là hình ảnh của Đấng Tạo Thành, song cả người nam lẫn người nữ hỗ tương nhau. Cả hai đều là kỳ công ngang nhau được Thiên Chúa tạo dựng.
Nơi trình thuật thứ hai về việc tạo dựng, qua biểu tượng của việc nữ giới được xuất phát từ xương sườn của nam giới, Thánh Kinh muốn nhấn mạnh là nhân tính chưa thực sự trọn vẹn cho đến khi nữ giới được dựng nên (x. Gn 2:18-24). Nữ giới được gọi bằng một danh xưng, mà việc nhấn mạnh về nguyên âm phát ra của danh xưng này trong tiếng Hy Bá cho thấy mối liên hệ của nữ giới với nam giới (is/issah). “Thiên Chúa đã dựng nên người nam và người nữ với nhau và muốn hai giới sống cho nhau” (Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 371). Không được nghĩ phái nữ xuất hiện như là một “trợ nhân xứng hợp của con người” (Gn 2:18) thì trở thành đầy tớ của người nam – “trợ nhân” đây không đồng nghĩa với “đầy tớ”; tác giả thánh vịnh đã thưa cùng Thiên Chúa rằng: “Ngài là sự trợ giúp của tôi” (Ps 70:5; x. Ps 115:9, 10, 11; Ps 118:7; Ps 146:5); trái lại, trọn cả câu kinh thánh này có ý nói rằng, nữ giới có thể hợp tác với nam nhân, vì nữ giới bổ khuyết cho nam nhân một cách trọn hảo. Nữ giới không phải là một thứ “cái tôi” khác nơi nhân tính chung của hai giới, một nhân tính gồm cả nam lẫn nữ với một phẩm vị hoàn toàn ngang nhau.
 
2- Đáng lấy làm vui mừng ở chỗ là, trong việc suy tư về văn hóa hiện đại đối với những gì mang ý nghĩa nữ nhân đã dẫn tới một kiến thức sâu xa hơn về con người, liên quan đến việc “sống cho kẻ khác” theo mối hiệp thông liên bản vị. Ngày nay, việc nghĩ đến người khác, theo chiều hướng hiến bản thân mình đi, đang trở thành một vấn đề nguyên tắc. Tiếc thay, nó lại bị coi thường ở mức độ áp dụng thực hành. Bởi thế, cần phải mạnh mẽ lên án những cuộc tấn công phẩm giá con người, những cuộc tấn công lan tràn phạm đến phẩm giá của nữ giới, được bộc lộ qua việc khai thác con người và thân xác của họ. Phải cương quyết chống lại tất cả những việc xúc phạm đến tự do hay nữ tính của họ, như việc “du lịch cầu dâm”, việc mua bán các em gái xuân thì, việc bừa bãi phá hủy bộ phận sinh sản, nói chung là chống lại mọi hình thức phạm đến phái tính khác.
 
Luật luân lý, một luật chủ trương phẩm giá của nữ giới là một con người được dựng nên theo hình ảnh Hiệp Thông của Thiên Chúa, đòi chúng ta phải có một thái độ hoàn toàn khác hẳn. Ngày nay, hơn bao giờ hết, khoa nhân loại học theo thánh kinh về tính cách liên hệ, một tính cách giúp chúng ta thực sự hiểu được căn tính của con người trong mối liên hệ với kẻ khác, nhất là giữa người nam và người nữ. Nhìn vào con người theo “tính cách liên hệ” của họ, chúng ta thấy được dấu vết của mầu nhiệm Thiên Chúa, như là một hiệp nhất chính yếu, trong mối hiệp thông giữa ba Ngôi Vị thần linh, được mạc khải nơi Đức Ki
114.864864865135.135135135250