28/05/2018
365
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
Bài 9
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGÔN SỨ
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hoá đầu giờ
 
          Lạy Chúa Thánh Thần, xin đổi mới chúng con, và dẫn đưa chúng con về đường chân lý. Xin ban cho mỗi người chung con biết yêu thương nhau, tôn trong nhau, cùng nhau xây dựng nước Chúa ngay ở trần gian này. Và giờ đây, xin cho chúng con hiểu được ý Chúa qua sứ điệp của các ngôn sứ trong bài học hôm nay. Amen.
 
2. Câu chuyện minh họa
 
          Một buổi chiều, có lữ khách nghèo tìm đến trước một dinh thự nằm ở ven rừng để xin trọ qua đêm. Không ngờ đây lại là nơi nghỉ chân sau những chuyến đi săn của một nhà quý tộc giàu có nhưng nổi tiếng là hết sức keo kiệt ích kỷ. Thế là đích thân chủ nhà ra xua đuổi không thương tiếc: "Đây là dinh thự của ta chứ không phải là nhà trọ mà ai muốn vào ở cũng được!" Cánh cửa đóng sập lại ngay. Nhưng người khách lạ vẫn kiên nhẫn đập cửa mãi cho đến khi nhà quý tộc lại phải ra mở cửa quát tháo to tiếng. Người khách vẫn từ tốn đề nghị: "Thưa ngài, xin ngài bình tĩnh bớt giận, xin phép cho tôi hỏi ngài ba câu, nếu như ngài là một người thông minh trả lời được thì tôi sẽ xin đi khỏi đây ngay!"
 
          Nhà quý tộc nổi máu tự ái nên nhận lời và tin chắc mình sẽ thắng. Người khách bắt đầu hỏi câu thứ nhất: "Ai đã ở trong dinh thự này trước ngài ?" Nhà quý tộc trả lời được ngay: "Cha ta đã ở đây chứ ai?" Người khách lại hỏi câu thứ hai: "Thế ai đã ở đây trước ông thân sinh của ngài?" Nhà quý tộc ngẩn ngơ không biết trả lời thế nào, vì cha con ông ta chỉ mới làm chủ tòa dinh thự này sau khi người chủ quý tộc trước đây đã bị phá sản rồi tự tử chết đã rất lâu. Đến đây thì người khách mới nói: "Nếu vậy thì cha ngài và cả ngài nữa, cũng chỉ là những người khách trọ ở đây trong một thời gian nào đó, rồi đến một ngày chính ngài cũng phải nhường lại cho một chủ nhân khác. Hóa ra cái dinh thự nguy nga này cũng chẳng khác gì một thứ quán trọ..."
 
          Người khách lạ nhận ra đã có sự đánh động sâu xa nơi nhà quý tộc, ông ta ngỏ lời: "Vì vậy, tôi thành thật khuyên ngài đừng quá phung phí tiền bạc để làm đẹp và chỉ bo bo giữ lấy cho riêng mình một cái quán trọ tạm bợ chóng qua như thế này. Ngược lại, tôi nghĩ ngài nên cởi mở tấm lòng để giúp đỡ những người nghèo khổ và cơ nhỡ thiếu thốn. Và như thế, chính là ngài đã biết chuẩn bị sửa soạn cho một chỗ ở vĩnh cửu đời sau trên Nước Trời..."
 
3.        Dẫn vào bài
 
          - Nhà quý tộc giàu có là con người như thế nào? (Ông ta sống quá ích kỷ và keo kiệt, không biết giúp đỡ khách lỡ đường).
 
          - Câu chuyện không kể hết, nhưng hãy thử đoán xem sau đó ông ta sẽ thay đổi ra sao? (Ông ta sẽ nhận ra lỗi lầm của mình, mời khách lạ vào nhà, và từ đó về sau, ông ta sẽ sống vị tha bác ái hơn).
 
          - Người khách lạ đã dựa vào đâu để phân tích giảng giải cho nhà quý tộc? (Ông ta đã dựa vào Lời Chúa).
 
          - Vậy chúng ta có thể gọi người khách lạ ấy là một vị sứ giả được Chúa sai đến để cảnh tỉnh nhà quý tộc không? Thánh Kinh Cựu Ước gọi những người được Thiên Chúa chọn để làm sứ giả nói Lời Chúa cho Dân của Ngài là các vị Ngôn Sứ).
 
          Hôm nay, các bạn sẽ tìm hiểu về các Ngôn Sứ được Thiên Chúa sai đến với Dân Ít-ra-en trong Cựu Ước.
 
4. Đọc Thánh Kinh (1 Sm 16, 1 - 23)
 
          Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.
          ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Ngươi còn khóc thương Sa-un cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa ? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." Ông Sa-mu-en thưa: "Con đi thế nào được ? Vua Sa-un mà nghe biết thì vua sẽ giết con !" ĐỨC CHÚA phán: "Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và hãy nói : 'Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA.' Ngươi sẽ mời Gie-sê đến dự hy lễ; phần Ta, Ta sẽ cho ngươi biết điều ngươi phải làm, và ngươi sẽ xức dầu tấn phong cho Ta kẻ Ta sẽ nói cho ngươi hay." Ông Sa-mu-en làm điều ĐỨC CHÚA đã phán; ông đến Bê-lem và các kỳ mục trong thành run sợ ra đón ông. Họ nói : "Ông đến có phải là để đem bình an không ?" Ông trả lời: "Bình an ! Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA. Các ông hãy thanh tẩy mình và đến dự hy lễ với tôi." Ông thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ. Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: "Đúng rồi ! Người ĐỨC CHÚA xức dầu tấn phong đang ở trước mặt ĐỨC CHÚA đây !" Nhưng ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng." Ông Gie-sê gọi A-vi-na-đáp và cho cậu đi qua trước mặt Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho Sa-ma đi qua, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: "ĐỨC CHÚA không chọn những người này." Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê : "Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?" Ông Gie-sê trả lời: "Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên." Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: "Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây." Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !" Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí ĐỨC CHÚA nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi. Ông Sa-mu-en đứng dậy và đi Ra-ma. Thần khí ĐỨC CHÚA rời khỏi vua Sa-un và một thần khí xấu từ ĐỨC CHÚA đến ám vua. Triều thần nói với vua Sa-un : "Ngài thấy đó, một thần khí xấu của Thiên Chúa ám ngài. Xin ngài truyền. Bề tôi của ngài đang ở trước mặt ngài: họ sẽ tìm một người biết gảy đàn, và khi thần khí xấu của Thiên Chúa xuống trên ngài, thì người ấy sẽ gảy đàn và ngài sẽ cảm thấy dễ chịu." Vua Sa-un nói với triều thần: "Các người hãy đi tìm cho ta một tay gảy đàn giỏi và đưa đến cho ta." Một người trong đám gia nhân thưa rằng: "Tôi biết ông Gie-sê người Bê-lem, có một người con trai biết gảy đàn. Anh ta là một dũng sĩ can đảm, một chiến binh, một người có tài ăn nói, đẹp trai, và ĐỨC CHÚA ở với anh." Vua Sa-un sai sứ giả đến với ông Gie-sê và nói với ông: "Ngươi hãy gửi cho ta Đa-vít, con ngươi, đứa chăn chiên." Ông Gie-sê bắt một con lừa, cho chở bánh, một bầu da rượu, và một con dê con, rồi sai Đa-vít, con ông, mang đến cho vua Sa-un. Đa-vít đến với vua Sa-un và chầu chực trước mặt vua. Vua thương cậu lắm và cậu trở thành người hầu cận của vua. Vua Sa-un sai người đến nói với ông Gie-sê: "Hãy để Đa-vít chầu chực trước mặt ta, vì nó được đẹp lòng ta."Như vậy, khi thần khí Thiên Chúa xuống trên vua Sa-un, thì Đa-vít cầm đàn và gảy. Bấy giờ vua Sa-un nguôi bệnh, cảm thấy dễ chịu, và thần khí xấu rời khỏi vua.
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
          Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, Thiên Chúa vẫn chọn và sai các sứ giả của Ngài đến để cảnh tỉnh những lỗi lầm, soi sáng củng cố lòng tin của dân Ít-ra-en trong Cựu Ước. Giờ đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem các ngôn sứ là ai, các ngài có vai trò gì trong xã hội và tôn giáo.
 
1. Ngôn sứ là ai?
 
          Ngôn sứ mà ta thường gọi là tiên tri, nghĩa là những người có thể biết trước và báo trước tương lai. Định nghĩa này có phần đúng, nhưng việc báo trước tương lai không phải là tất cả và cũng không phải là chính yếu. Các ông là những phát ngôn viên của Thiên Chúa, những sứ giả mang Lời Chúa đến cho dân.
 
          Trong Cựu Ước, ngoài danh từ nabi (mà ta dịch là ngôn sứ) còn có những từ khác để chỉ các ông như: người thông suốt giác quan và linh cảm; người của Thiên Chúa, vì có những liên hệ mật thiết với Ngài (x. 2 V 1,9.11).
 
          Như vậy, ngôn sứ là người có kinh nghiệm về Thiên Chúa qua việc gặp gỡ, gắn bó với Ngài; được Thiên Chúa mặc khải về thánh ý, được giúp đỡ, soi sáng để đoán biết hiện tại và tiên báo tương lai; được Thiên Chúa sai đi để nhắc nhở cho nhân loại những yêu sách của Ngài và đưa nhân loại trở về cùng Thiên Chúa.
 
2. Các Ngôn sứ trong lịch sử Ít-ra-en
 
          Ngày nay người người ta thường phân chia các ngôn sứ là hai nhóm là các ngôn sứ lớn và các ngôn sứ nhỏ.
 
          - Các ngôn sứ lớn gồm 4 vị: I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-giê-ki-en, Đa-ni-en
          - Các ngôn sứ nhỏ gồm 12 vị: Hô-sê, Giô-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-khúc, Sô-phô-ni-a, Khác-gai, Gia-ca-ri-a, Ma-la-khi.
 
3. Ơn gọi các ngôn sứ
 
          - Xác tín vào ơn Chúa gọi: ơn gọi ngôn sứ hoàn toàn lệ thuộc ý muốn của Thiên Chúa, bất kể điều kiện xã hội, văn hóa của đương sự trong Cựu Ước, ta thấy kể lại việc Chúa gọi Mô-sê (x. Xh 3-4); Sa-mu-en (x. 1Sm 3); Is (x. Is 6); Giê-rê-mi-a (x. Gr 1),… Các ngôn sứ đều xác tín rằng mình nói Lời Thiên Chúa, thay mặt Ngài và xác tín như vậy vì ý thức rằng Chúa đã chọn gọi và sai các ông đi.
 
          - Gọi để làm gì? Gọi để dạy dỗ và giữ gìn dân Chúa trung thành với đạo Gia-vê. Để chuẩn bị, hướng dẫn họ tới thời sung mãn mà lãnh nhận mặc khải nơi Đức Ki-tô.
 
          - Đáp trả ơn gọi: Lúc đầu, nghe Chúa gọi, các ngôn sứ không hứng thú gì để lãnh nhận vì họ biết sứ vụ thật là nặng nề. Thí dụ: Mô-sê tránh né, Giê-rê-mi-a than thở (x. Gr 20,7-10); Giô-na bỏ trốn. Tuy rụt rè nhưng các vị cảm thấy có một sức mạnh thúc bách khiến họ không thể chối từ. Sức mạnh ấy không phải là một sự áp đặt khiến đương sự mất tự do, đúng hơn là họ bị Thiên Chúa quyến rũ. A-mốt bảo: “sư tử đã gầm lên, ai mà không sợ hãi? Đức Chúa đã phán truyền, ai lại chẳng nói tiên tri?”(x. Am 3,8). Từ đó, tất cả đời sống các ông gắn liền với sứ mạng, các ông thâm tín rằng lời các ông nói là Lời Thiên Chúa và mạnh dạn nói lên lời ấy mà không sợ khó khăn nguy hiểm.
 
4. Các ngôn sứ trình bày giáo huấn như thế nào?
 
          - Bằng lời nói: Công việc chính yếu của ngôn sứ là giảng dạy, trách mắng, vạch ra những lỗi lầm của dân, ngăn đe những tai họa có thể xảy đến, khuyến dụ, dạy bảo dân phải làm gì cho đúng ý Chúa và đôi khi còn hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn. Các lời ngôn sứ thường ngắn gọn, đanh thép. Về sau những lời ấy được sưu tập lại thành những tập nhỏ, rồi những tập nhỏ góp lại thành sách (x. Gr 36).
 
          - Bằng hành động: Trước hết là những hành động tượng trưng, hành động xảy ra thì lời ngôn sứ cũng sẽ được thực hiện. Thí dụ, A-khi-a xé áo choàng làm 12 mảnh, trao cho Giê-rô-bô-am 10 mảnh để chỉ rằng ông này sẽ làm vua 10 chi tộc (x. 1 V 11, 29-32). Giê-rê-mi-a đạp vỡ chiếc vò bằng đất để nói rằng Gia-vê sẽ đập tan dân và thành Giê-ru-sa-lem (x. Gr 19,32). Đặc biệt, Ê-dê-ki-en có nhiều hành động tượng trưng (x. Ed 3,22-5,17). Mặt khác, chính đời sống của ngôn sứ còn là một lời giảng dạy. Những trắc trở Hô-sê gặp phải trong đời hôn nhân tượng trưng cho mối liên lạc nhiều sóng gió giữa Gia-vê và Ít-ra-en (x. Hs 1-3), cách sống khắc khổ của Ê-li-a và Gio-an Tẩy Giả nói lên sự tuyệt đối của Thiên Chúa.
 
5. Sứ điệp các ngôn sứ
 
          - Thiên Chúa độc nhất: Trên núi Xi-nai, Thiên Chúa mặc khải Ngài là Thiên Chúa duy nhất, lại tuyển chọn Ít-ra-en làm dân riêng, rồi còn lập giao ước mới. Ba sự việc ấy gắn liền với nhau. Vì thế, Thiên Chúa như là Thiên Chúa riêng của dân Ít-ra-en. Tuy nói thế, các ngôn sứ cũng tỏ ra là Thiên Chúa nắm vận mệnh các nước trong tay, xét xử nước lớn cũng như nước bé (x. Am 1,2) và sử dụng các nước như dụng cụ để thưởng phạt (x. Am 6,11; Is 7,18-19). Vì lẽ Thiên Chúa là Chúa tể duy nhất của toàn cõi địa cầu nên không còn chỗ cho thần nào khác. Các ngôn sứ đương đầu với các tôn giáo dân ngoại. Các ngài đả kích và phỉ báng các tà thần (x. Hs 2,7-15; Is 40,19-20). Ngoài ra, các ngôn sứ còn cho biết các đặc tính của Thiên Chúa: Ngài là Thiên Chúa thánh thiện, Thiên Chúa công bình, Thiên Chúa tình yêu.
 
          - Ý thức về tội lỗi: Kỳ thực ý niệm về tội lỗi cũng như ý niệm về Thiên Chúa duy nhất không phải là điều mới mẻ lắm, vì đã có trong Mười Điều Răn (x. 2Sm 12; 1 V 21). Điều mới mẻ trong sách các ngôn sứ là các ngài thường nhắc đi nhắc lại rằng, tội lỗi phân cách con người ra khỏi Thiên Chúa ( x. Is 59,2). Vì tội lỗi tràn đầy nên Thiên Chúa phải trừng phạt, ngày của Thiên Chúa phải đến (x. Is 2,6-22). Muốn thoát khỏi hình phạt phải thực thi thánh ý của Thiên Chúa, làm điều chính trực, ăn ở khiêm nhu. Điều Thiên Chúa đòi hỏi là sống đạo thật lòng, có một tôn giáo nội tâm, vì thế, các ngôn sứ đả phá mọi nghi thức thiếu luân lý và đạo đức (x. Is 1,16-17).
 
          - Niềm tin vào ơn cứu độ: Thiên Chúa trừng phạt, nhưng điều Ngài muốn, không phải là trừng phạt mà là cứu độ. Ngài sẽ tha cho một số người còn lại. Theo các ngôn sứ thì số người còn lại là những ai thoát khỏi nguy hiểm bây giờ và hưởng ơn cứu độ mai sau (x. Am 5,15). Để thiết lập nước trời trên mặt đất, Thiên Chúa ban cho dân Đấng Mê-si-a, nghĩa là Đấng được ngài xức dầu phong vương, Đấng Mê-si-a sẽ từ dòng dõi vua Đa-vít mà ra (x. 2 Sm 7). Vì thế, Đấng ấy sẽ xuất hiện tại Bê-lem Ê-pha-ta (x. Mk 5,1). Thần Khí Thiên Chúa sẽ ngự trên Ngài với tất cả ân sủng (x. Is 11,1-5). Ngài là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (x. Is 7,14). Ngài là Thiên Chúa, Đấng đem lại công bình cho chúng ta (x. Gr 23,6).
 
          Với thời gian, nước nhà sụp đổ, dân chúng bị lưu đày, nhưng niềm hy vọng về nước Thiên Chúa và Đấng cứu độ vẫn tồn tại. Quan niệm nếu có khác là khác về Đấng cứu độ. Theo các ngôn sứ, Đấng cứu độ sẽ là tân Đa-vít, là mục tử (x. Ed 34,23-24), là Đấng khiêm nhu (x. Dcr 9,9), Đấng Mê-si-a sẽ là vị tôi trung của Thiên Chúa (x. Is 42,1-7). Còn ngôn sứ Đa-ni-en thì gọi là Đấng Mê-si-a là con người sẽ ngự giá mây trời mà đến. Trong mọi giai đoạn lịch sử dân Ít-ra-en đều mong đợi Đấng Mê-si-a và nhờ đó vẫn tin cậy. Nhưng lòng mong đợi và tin cậy đó phải nói là mơ hồ mãi cho tới ngày Đức Giê-su đến để thực thi những gì các ngôn sứ đã loan báo.
 
C – KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng
 
          Tác giả thư Do-thái đã viết: “Thuở xưa đã nhiều lần, nhiều cách Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2). Do đó, học hỏi các sách ngôn sứ chính là lắng nghe “sấm ngôn của Đức Chúa” gửi cho dân Ngài trong hoàn cảnh riêng biệt và giúp ta hiểu rõ hơn về sứ mạng của Đức Ki-tô.
 
          Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người Ki-tô hữu lãnh nhận sứ vụ ngôn sứ, nên được mời gọi sống chiều kích ngôn sứ của mình bằng cách sống thân mật với Chúa, bằng việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, nhờ đó nhận biết thánh ý Chúa. Như trong thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2000, đã nhắn nhủ các Ki-tô hữu khi sống Tin mừng, thì đồng thời thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình, biến đổi cuộc đời, nhờ hông ân của Chúa Thánh Thần nâng đỡ, trở nên tạo vật mới, là nhân tố để xây dựng nền văn minh tình thương, bén rễ trong lòng dân tộc.
 
          Với vai trò ngôn sứ của mình, người Ki-tô hữu được mời gọi sống Tin mừng và loan báo Lời Chúa cách triệt để như một trách nhiệm dù có phải đi ngược dòng, bị cản trở, bị đe dọa ngoài xã hội cũng như trong Giáo hội. Lời của Chúa cũng là lời tạo niềm vui cho người ngôn sứ, nhưng cũng khiến người ngôn sứ bị dày vò.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa, Chúa luôn yêu thương Dân Ngài. Ngài đã chọn và sai các Ngôn sứ đến nói với Dân Ít-ra-en để giúp họ mau sám hối quay về, hoặc để họ được vững lòng cậy trông qua mọi thử thách. Hơn nữa Chúa đã gửi Đức Giê-su là vị Ngôn sứ tối cao và cuối cùng đến với nhân loại chúng con. Xin cho chúng con biết vâng nghe Lời Người, biết cảm nhận được sứ điệp mà Chúa gửi đến cho chúng con qua lời dạy của các ngôn sứ, qua các bài học Giáo lý, qua Tin Mừng trong Thánh Lễ và qua các lời giáo huấn dạy dỗ của Giáo Hội. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
SÁCH AI-CA
Sách Ai-ca được soạn ở Pa-lét-tin sau khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ năm -587. Sách gồm 5 bài thơ buồn dâng lên Thiên Chúa lời thương tiếc thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Tuy nhiên, từ những lời ai oán ấy, lại toát ra một niềm tin không lay chuyển nơi Thiên Chúa và một tâm tình thống hối sâu xa.
 
SÁCH BA-RÚC
Theo lời mở đầu thì sách này do ông Ba-rúc là thư ký của ông Giê-rê-mi-a viết tại cảnh lưu đày ở Ba-bi-lon và gửi về Giê-ru-sa-lem để đọc trọng các buổi nhóm phụng vụ. Sách cũng an ủi những người lưu đày bằng cách nhắc lại niềm tin vào thời cứu thoát.
 
SÁCH Ê-GIÊ-KI-EN
Trong đám người bị lưu đày đợt 2, năm -587, có một vị ngôn sứ đi theo để an ủi khích lệ dân chúng. Đó là Ê-giê-ki-en. Thiên Chúa đã cho ông nhận thấy và tả lại cảnh vinh quang Thiên Chúa rời bỏ đền thờ Giê-ru-sa-lem để đến với những người bị lưu đày ở Ba-bi-lon. Ông kêu gọi đồng bào thật lòng hoán cải. Ông mạng mẻ đòi hỏi họ phải ý thức về trách nhiệm cá nhân, và ông mở cho họ thấy viễn tượng một giao ước mới trong Thánh Thân. Ông cũng báo trước rằng một ngày kia họ sẽ được trở về trong một đất thánh đã đổi mới, trong một Giê-ru-sa-lem mới hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa, mà tên mới của Thành ấy sẽ là “Thiên Chúa ở đó”.
 
SÁCH ĐA-NI-EN
Sách Đa-ni-en được viết vào khoảng năm -165, trong thời kỳ có cuộc bách hại của vua An-ti-ô-cô Ê-pi-pha-nô và cuộc chiến tranh giải phóng. Mục đích là nâng đỡ ý chí kháng chiến của người Do-thái.
 
6 chương đầu kể chuyện một thiếu niên Do-thái tên là Đa-ni-en, phục vụ trong triều đình Ba-bi-lon và Ba-tư, mà vẫn luôn luôn trung thành với luật Chúa, bất chấp những khổ hình: bị ném vào lò lửa hay vào hang sư tử. Đa-ni-en còn giải thích các giấc mơ, tỏ rõ ý muốn của Thiên Chúa và báo trước về các đế quốc sẽ nối tiếp nhau trong tương lai cho tới ngày chiến thắng dứt khoát của Thiên Chúa và của những kẻ lành mà Thiên Chúa sẽ cho sống lại.
 
6 chương sau ghi lại các thị kiến về nước Thiên Chúa sẽ đến trong tương lai. Đó là một cuốc gia bao quát mọi dân nước, và không bao giờ chấm dứt. Đó là nước của các thánh, của Thiên Chúa, của Đấng Con Người đã được trao mọi quyền bính.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)