12/03/2018
234
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Thiên sứ chào Đức Maria là “Đấng-Đầy-Ơn-Phúc”, kiểu như gọi bằng một tên riêng, biểu lộ lòng ưu ái của Thiên Chúa đổ tràn đầy ân huệ xuống trên một tạo vật thấp hèn.
****
 
BÀI 19: “NGƯỜI ĐẦY ƠN PHÚC”
 
1.- Trong trình thuật Truyền tin, lời đầu tiên của thiên sứ: “Hãy vui lên” tạo nên một lời mời vui mừng, nhắc tới những sấm ngôn của Cựu Ước hướng tới “thiếu nữ Sion”. Trong bài huấn giáo trước đây chúng ta đã nêu bật điểm đó cùng với việc trình bày những lý do thúc đẩy vui mừng: sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người, vua Mêsia ngự đến và sự phong nhiêu của bà mẹ. Ba lý do ấy đều ứng nghiệm ở nơi Đức Maria.
 
Sau lời chào khairê “hãy vui lên”, thiên sứ Gabriel ngỏ lời với Trinh nữ Nazarét, đã gọi Người là kekharitomene, “Đầy ơn phúc”.
 
Trong bản văn Hy Lạp, hai từ KhairêKekharitomene có tư tưởng liên lạc mật thiết với nhau: Đức Maria được mời gọi hãy vui mừng bởi vì Thiên Chúa yêu thương Người và đổ tràn ân phúc trên Người nhằm tới chức vụ làm Mẹ Thiên Chúa.
 
Đức tin của Giáo Hội và kinh nghiệm của các thánh đều dạy rằng ân sủng là nguồn vui mừng và niềm vui chân thực bắt nguồn từ Thiên Chúa. Nơi Đức Maria, cũng như nơi các Kitô hữu, ân huệ của Thiên Chúa phát sinh ra một niềm hoan lạc sâu đậm.
 
2.- Kekharitomene: hạn từ này dành cho Đức Maria được coi như là một đặc tính của một phụ nữ được Chúa định làm Thân Mẫu Đức Giêsu. Hiến chế về Hội Thánh đã khẳng định như sau: “Trinh nữ Nazarét, do lệnh Chúa, đã được thiên sứ đến truyền tin chào kính là ‘đầy ơn phúc’” (HT 56).

Việc thiên sứ gọi Người bằng danh xưng này mang lại cho lời chào của sứ thần một giá trị rất là quan trọng: nó bày tỏ kế hoạch cứu độ huyền nhiệm của Thiên Chúa đối với Đức Maria. Như tôi đã viết trong thông điệp Thân Mẫu Đấng Cứu Thế: “Sự đầy tràn ơn phúc ám chỉ tất cả việc ban phát siêu nhiên dồi dào mà Đức Maria nhận lãnh, bởi vì Người đã được chọn làm Thân Mẫu Đức Kitô” (số 9).
 
“Đầy ơn phúc” là tên gọi mà Đức Maria được đặt dưới con mắt của Thiên Chúa. Thực vậy, theo như trình thuật của thánh sử Luca, thiên sứ đã dùng danh xưng đó trước khi kêu tên Maria, muốn làm nêu bật khía cạnh trổi vượt mà Chúa đã nhận ra nơi bản thân của người Trinh nữ Nazarét.
 
Thành ngữ “Đầy ơn phúc” dịch từ Hy Lạp kekharitomene là một phân-từ thể thụ động. Để có thể lột hết sự súc tích của bản văn Hy Lạp thì thay vì nói rằng “đầy ơn phúc “cần phải dịch là “được tràn ơn phúc” hay là “được đổ đầy ơn phúc”; điều này có nghĩa là một hồng ân được Chúa ban cho Trinh nữ. Từ ngữ, đặt ở thể quá khứ, cũng xác định hình ảnh của một ân phúc toàn hảo và bền vững kèm theo sự sung mãn. Cũng động từ ấy, theo nghĩa “ban cấp ân huệ” được sử dụng trong thư gửi Ephêsô để ám chỉ sự dồi dào ân sủng mà Chúa Cha đã đổ tràn cho chúng ta trong Thánh Tử yêu dấu (1,6). Đức Maria đã lãnh nhận sự dồi dào ân sủng như là hoa trái đầu mùa của ơn cứu chuộc (xc. Thân Mẫu Đấng Cứu Thế, số 10).
 
3.- Trong trường hợp của Đức Trinh Nữ, hành động của Thiên Chúa quả là phi thường. Đức Maria không có một tước hiệu phàm trần nào để đáng lãnh nhận lời loan báo Đấng Mêsia sẽ đến. Người không phải là một vị Thượng Tế đại diện chính thức cho đạo Do Thái, cũng chẳng phải là một người nam, nhưng chỉ là một cô gái không có ảnh hưởng gì trong xã hội đương thời. Hơn thế nữa, Người xuất thân từ Nazarét, một làng không hề được nhắc tới trong Cựu Ước. Nazarét chẳng được tiếng tăm gì, theo như lời ông Natanael được kể lại trong Phúc Âm thánh Gioan: “Từ Nazarét có cái gì tốt đâu?” (Ga 1,46).
 
Tính cách phi thường và ân huệ nơi sự can thiệp của Thiên Chúa lại còn được nổi bật hơn khi chúng ta đối chiếu với bản văn Luca thuật lại cảnh thiên sứ hiện ra với ông Dacaria. Thực vậy, thánh sử nêu bật điều kiện ông ta là một thượng tế, và đời sống của ông cũng như của bà vợ Elisabét là khuôn mẫu của người công chính theo Cựu Ước: hai ông bà “tuân giữ nghiêm chỉnh tất cả lề luật của Thiên Chúa” (Lc 1,6).
 
Đối lại, nguồn gốc bà Maria thì không được thánh Luca nói tới: từ ngữ “thuộc nhà Đavít” (Lc 1,27) được dành cho ông Giuse mà thôi. Ngoài ra chúng ta cũng không thấy mảy may gợi ý đến tác phong của Người. Với lối hành văn như vậy, thánh sử muốn nêu bật rằng nơi Đức Maria tất cả đều là ân huệ của Chúa. Những gì được ban cho Người thì không phải do công trạng của mình, nhưng hoàn toàn do lòng ưu ái của Thiên Chúa.
 
4.- Dĩ nhiên nói thế không có nghĩa là thánh Luca không muốn hạ thấp tư cách cao sang của Đức Trinh Nữ. Đúng ra ông muốn trình bày Người như là hoa trái của lòng ưu ái của Thiên Chúa, Đấng đã chiếm hữu trọn vẹn Đức Maria đến nỗi theo như lời của thiên sứ, “đổ tràn ân phúc” xuống cho Người. Chính sự dồi dào ân sủng tạo ra sự dồi dào thiêng liêng ẩn tàng nơi Đức Maria.
 
Trong Cựu Ước, Chúa Giavê đã bộc lộ tình thương dồi dào qua thiên hình vạn trạng. Vào lúc bình minh của Tân Ước, lòng lân tuất của Thiên Chúa đạt tới cao điểm ở nơi Đức Maria. Nơi Người sự tuyển chọn mà Chúa dành cho dân riêng, đặc biệt là cho những người khiêm tốn và khó nghèo đã đạt tới chóp đỉnh.
 
Nhờ được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và nhờ cảm nghiệm của các thánh, Hội Thánh khuyến khích các tín hữu hãy đưa mắt nhìn lên Thân Mẫu Đấng Cứu Thế và hãy cảm thấy rằng mình cũng được Thiên Chúa yêu thương. Hội Thánh mời các tín hữu chia sẻ sự khiêm tốn và khó nghèo của Người, ngõ hầu theo gương Mẹ và nhờ Mẹ chuyển cầu, họ có thể bền đỗ trong ơn sủng của Chúa thánh hóa và thay đổi con tim.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)