23/04/2018
371
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Mở đầu loạt bài chú giải trình thuật Truyền Tin, Đức Maria được giới thiệu như là “thiếu nữ Sion mới” (bài 18), tượng trưng cho dân Israel trung thành với giao ước. Để kết thúc loạt bài này, Đức Thánh Cha nhìn Đức Maria như “bà Evà mới”, tượng trưng cho dòng dõi loài người, đón nhận Lời Chúa. Nhờ đức tin và vâng phục, Đức Maria trở thành “bà mẹ của những người sống”.
****

 
BÀI 33: ĐỨC MARIA “BÀ EVÀ MỚI”
 
1.- Khi bình giải biến cố Truyền Tin, Công Đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh đặc biệt tới giá trị của sự thỏa thuận của Đức Maria với những lời của thiên sứ. Khác với những trường hợp tương tự được kể lại trong Kinh Thánh, lần này thiên sứ rất mong đợi sự thỏa thuận của Đức Maria: “Chúa Cha giàu lòng từ bi muốn rằng sự thỏa thuận của Đấng được định làm mẹ thì đi trước cuộc Nhập Thể, bởi vì như thế, cũng như một người nữ đã góp phần vào việc mang lại sự chết, thì một người nữ cũng góp phần vào việc mang lại sự sống” (HT 56).
 
Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân đã nhắc lại sự đối chọi giữa cung cách của bà Evà và của Đức Maria, đã được thánh Irênêo diễn tả như sau: “Cũng như bà kia -nghĩa là bà Evà- đã bị quyến rũ do lời lẽ của một thiên sứ, đến nỗi đã lìa xa Thiên Chúa bởi vì làm lỗi lời của Người, thì bà này -nghĩa là bà Maria- đã tiếp nhận tin mừng do lời lẽ của một thiên thần đến nỗi đã cưu mang Thiên Chúa bởi vì vâng theo lời của Người. Cũng như bà kia đã bị dụ dỗ để bất tuân Thiên Chúa thì bà này đã được khuyến dụ để vâng lời Chúa. Vì thế mà Trinh Nữ Maria trở thành trạng sư cho bà trinh nữ Evà. Cũng như nhân loại đã bị cái chết đô hộ vì một trinh nữ, thì cũng được giải thoát khỏi cái chết nhờ một trinh nữ; như vậy sự bất tuân của một trinh nữ đã được chấn chỉnh lại nhờ sự tuân phục của một trinh nữ…” (Adversus Haereses 5,19.1).
 
2.- Khi nói lên lời “xin vâng” đối với kế hoạch của Thiên Chúa, Đức Maria hoàn toàn tự do trước mặt Chúa. Đồng thời Người cảm thấy có trách nhiệm trước mặt nhân loại, bởi vì tương lai của họ lệ thuộc vào lời đáp của mình.
 
Thiên Chúa đã trao vào tay của một thiếu nữ vận mạng của tất cả nhân loại. Tiếng “xin vâng” của Đức Maria được đặt làm tiền đề ngõ hầu có thể thực thi chương trình mà Thiên Chúa vì tình yêu đã dự định cho phần rỗi nhân loại.
 
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã tóm tắt giá trị quyết liệt cho toàn thể nhân loại nhờ sự thỏa thuận tự do của Đức Maria vào chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa: “Đức Trinh Nữ Maria đã hợp tác vào sự cứu độ nhân loại bằng niềm tin tự do và bằng sự vâng phục. Người đã nói lên tiếng “xin vâng” nhân danh toàn thể nhân loại - “locus totius humanae naturae”: nhờ sự vâng phục của mình, Người đã trở thành bà Evà mới, bà mẹ những người sống” {1} (số 511).
 
3.- Qua thái độ của mình, Đức Maria đã nhắc nhở cho mỗi người chúng ta về trách nhiệm nặng nề biết đón nhận kế hoạch của Thiên Chúa vào cuộc đời của chúng ta. Khi tuân theo không chút dè dặt vào ý định cứu chuộc của Thiên Chúa được lời của thiên sứ tỏ bày, Đức Maria trở thành mẫu gương cho những kẻ mà Chúa Giêsu đã tuyên bố là có phúc, vì họ “lắng nghe Lời của Chúa và tuân hành” (Lc 11,28). Khi trả lời một người phụ nữ, giữa đám đông, tán dương bà mẹ Người thật có phúc, Chúa Giêsu tỏ cho thấy đâu là nguyên do đích thực của hạnh phúc của Đức Maria: sự tuân theo ý Chúa đã đưa Người đến chỗ chấp thuận làm Mẹ của Thiên Chúa.
 
Trong thông điệp Thân Mẫu Đấng Cứu Thế, tôi đã nêu bật rằng chức làm mẹ tinh thần, mà Đức Giêsu nói ở đây, tiên vàn nhằm tới Đức Maria. Thực vậy, Đức Maria không phải là người đầu tiên thuộc về số những kẻ lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành đó sao? Vì vậy lời chúc phúc mà Đức Chúa Giêsu đã công bố khi đáp lại lời của một bà vô danh không phải là tiên vàn nhằm tới Đức Maria hay sao? (số 20). Như thế, theo một nghĩa nào đó Đức Maria đã được tuyên bố là người môn sinh đầu tiên của Con mình, và qua tấm gương đó, Người mời gọi tất cả các tín hữu hãy quảng đại đáp ứng ơn Chúa.
 
4.- Công Đồng Vaticanô II còn dừng lại để giải thích sự tận tụy Đức Maria đối với việc phục vụ bản thân và sự nghiệp của Đức Kitô: “Như một nữ tỳ của Chúa, Đức Maria đã dâng hiến toàn thân cho bản thân và công trình của Con mình, đặt mình phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc ở dưới Đức Kitô và cùng với Đức Kitô, hợp với ân sủng của Thiên Chúa toàn năng” (HT 56).

Đối với Đức Maria, sự hiến thân cho bản thân và sự nghiệp của Đức Giêsu có nghĩa là kết hiệp mật thiết với Con mình, góp phần tình mẹ vào sự tăng trưởng nhân bản của Đức Giêsu và hợp tác vào công cuộc cứu chuộc của Người. Khía cạnh cuối cùng này đã được Đức Maria thực ở “dưới Đức Kitô”, nghĩa là trong một vị trí suy phục, hoa trái của ân sủng. Tuy nhiên, nó cũng là một sự cộng tác, bởi vì được thực hiện “cùng với Đức Kitô’ và bao hàm một sự tham dự trực tiếp vào công trình cứu chuộc, kể từ lúc Truyền Tin.
 
Công Đồng Vaticanô II nhận định: “Như vậy các Giáo phụ đã có lý khi nói rằng Đức Maria không phải chỉ là một dụng cụ hoàn toàn thụ động trong tay Chúa, nhưng Người đã cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại bằng đức tin tự do và sự vâng phục. Thực vậy, như thánh Irênêô đã nói, ‘nhờ vâng lời, Người đã trở thành nguyên nhân cứu rỗi cho bà Evà và cho tất cả nhân loại” (HT 56).
 
Khi được kết nạp vào việc Đức Kitô chiến thắng tội lỗi của nguyên tổ, Đức Maria tỏ ra thực sự là “mẹ của những người sống”. Chức làm mẹ của Người, được chấp thuận tự do bằng việc tuân phục chương trình của Thiên Chúa, trở nên nguồn sự sống cho toàn thể nhân loại.
 
Chú thích:
{1} Theo sự giải thích của tác giả sách Sáng Thế (3,20), tên bà Evà có nghĩa là “mẹ của chúng sinh” (mẹ của những người sống).
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)